Từ khi còn lò dò tập chạy, đồng Vọng với chúng tôi đã bị phủ một màn sương đặc quánh của sự huyền hoặc. Người lớn không bước chân vào, trẻ con bị dọa cũng không dám bén mảng, nghe nói có Ông Hùm thiêng thường rình người, lâu dần chẳng ai vãng lai nữa. Những năm 45 đói rã chân cây hòe, cố tôi hay lân la nhặt rễ tranh ở mé đồng Vọng, quanh quanh cũng hết, tiếng dữ người làng đồn chẳng cản được, cố lại nhắc đôi chân gầy đét vào sâu thêm. Không riêng gì cố, nhiều người cũng vào nhặt củ này củ nọ, đánh nhau cũng vì mấy nhánh rau dập, nên cố sợ người làng hơn sợ cọp. Dăm người mất tích, nhiều thêm những nghi vấn về đồng Vọng âm u tranh mọc lụt đầu người, có ông đi vào sâu còn nhìn thấy cả 1 khúc xương cẳng tay nham nhở thịt ngay dưới gốc truối già giữa đồng. Cố hãi,thành ra có đi xa thêm xuống Chân Định cũng không vào đồng Vọng nữa. Nhưng người vẫn cứ hụt dần, phần vì chết đói, phần cũng vì những tiếng gầm sắc lạnh dội vào vách những căn nhà tranh xập xệ ám thứ khói vẫn dùng để xua tử khí phủ cùng khắp. Dân làng lạnh người chốt cửa đậy liếp, đêm vừa buông liền tụ lại thành nhóm hơn chục người, lại vơ tre nứa cành khô chặn trước cửa, nhờ vậy số người đột nhiên bốc hơi vào không khí cũng giảm dần.
Nạn đói dẹp, trai tráng vào đồng lùng cọp, chưa đến nửa ngày đã đi ra, sắc mặt họ tối sẫm. Chẳng cọp gì đâu, chân cây ruối vốn có một hang nhỏ, khi này đã ăm ắp xương vụn. Nhà nhà đóng cửa, không lui tới đồng Vọng nữa, cũng chẳng ai để ý những manh chiếu, những mảnh tã rách tươm, dao thớt và nồi niêu vỡ xuất hiện ở đó từ bao giờ, dao dính chút máu đen thẫm, thớt gỗ quắt queo những mẩu thịt và xương vụn.
Tôi nghe cố kể mà tóc gáy dựng ngược.
Một con hổ già thì chỉ là một con hổ già, nhưng hổ dùng dao thớt lại là hổ tinh. Bảo sao họ kháo nhau tránh xa đất độc!
Cố tôi cười phá lên bằng giọng cười đanh như lưỡi thép chạm khúc gỗ rắn, vê nhúm râu lơ thơ lại thành một búi trắng đục dưới cằm.
"Đồ ngốc! Không phải hổ tinh! Mà là người! Người ăn thịt người!"
Tiếng cười sặc sụa của cố đập mạnh vào màng nhĩ tôi, thốt nhiên não tôi nổ 1 tiếng bùm.
Khi này tôi lại ước giá như đồng Vọng có một con hổ.
Tưởng tượng cảnh 1 lão già gớm ghiếc nhe ra hàm răng trắng ởn và ngoạm sâu vào cánh tay nung núc thịt của tôi, máu ấm bắn phé ra và nhuộm đỏ chòm râu bẩn thỉu, máu nhễu xuống cằm cùng nước dãi lão, thấm xuống đất... tôi lại mờ hết cả mắt, không khí đặc hẳn lại.
"Cố...cố lừa con! Người gì mà gầm vang từ đầu làng đến cuối làng!"
Thằng Châu còn quá bé để hiểu câu chuyện cố kể, nghển cổ cười khành khạch, âm thanh hòa vào với tiếng dế ri ri trước khoảng hiên đen kịt và lất phất mưa phùn. Cố hớp 1 miếng nước vối đặc cho nhuận giọng rồi rù rì kể tiếp bằng giọng âm âm u u
"Những đêm không trăng như thế này, mày biết tại sao nhà nào cũng đóng kín cửa không?"
Tôi trắng nhợt mặt, nửa không muốn nghe, nửa tò mò, đầu ngúc ngắc chẳng biết lắc hay gật. Cố đương nhiên thây kệ tôi, mỉm cười bí ấn
"'Chúng nó' phá, gà qué bò lợn trâu chó chết cả. Năm đói kém không gà không qué, 'chúng nó' xộc vào tận nhà ăn người! May thì sống, không thì nằm dưới gốc ruối cả!"
"Thôi cố đừng kể nữa, muộn lắm rồi đấy!!"
Tôi đâm hoảng lên, xua tay loạn xạ, mồ hôi rịn đầy chân tóc.Vẫn cái cười sang sảng ấy dội vào tai tôi, đoạn cố chống chân đứng dậy, lom khom tiến về phía buồng tả, bỏ lại tôi ôm thằng Châu cứng ngắc ngồi trên giường ngoài, không dám nhúc nhích.
Mấy ngày về quê là mấy ngày tôi xanh mặt. Cố quý tôi, nhưng cố quý ai là đem chuyện kì dị đất làng ra kể, kể lui kể tới, mỗi lần kể là một lần kinh hãi, tôi chưa từng sợ ai có năng khiếu kể chuyện như vậy. Nhưng ban ngày làng Chí Kim lại là một ngôi làng cổ đầy thơ mộng, tơ hồng vấn vít dọc các hàng dậu mây xanh xanh, nếp tranh nếp ngói xen kẽ, rêu phong đắp mảng cũ kĩ và hoài niệm, đồng xanh nhu nhú những đóa cúc dại như gấm dệt. Vậy nên tôi thích ở làng (ít nhất là vào ban ngày).
Bồi đắp thêm những cái thích cho tôi còn có thằng Thành, thằng Thái và thằng Thiện, chân chất dân quê và lanh lợi vô cùng. Tất nhiên tin và yêu bạn, nhưng tôi vẫn phải dè chừng với lời mời của Thành, thậm chí hơi có phần sợ hơn là e ngại. Bánh gai bà Thành làm thì ngon lắm, nhưng trời "hổm rày" cũng đen như bán gai, nhà cố còn ở đầu làng, nhà Thành ở cuối làng, và đầu làng với cuối làng cách nhau không xa, chỉ đúng một đồng Vọng. Thành và Thái thấy rủ không được, bày kế ép tôi đi.
Chiều tối chủ nhật, cố gọi tôi lại, sai sang nhà Mã Tự nhờ người đụng lợn, sớm ngày thứ hai cố làm lễ cúng Thành Hoàng. Tôi nhìn con Mướp ngoác miệng ngáp mà cảm tưởng như nó đang cười thẳng vào mặt mình, mặt tối sầm.
Mã Tự là bố Thành với Thái, đó là lí do tôi đần cả người.
Nhập nhoạng tôi đã nắm chắc cây đèn pin, lao như bay về phía mặt trời lặn, chưa tối hẳn đã thấy Thành với cái đầu cắt húi đang ôm bụng cười sằng sặc ngay cửa nhà. Tôi thở hồng hộc mất cả phút, mãi sau mới đứng thẳng người dậy rồi quắc mắt, sẵng giọng:
"Thành! Bố mày đâu?"
Thằng Thái ngồi trong nhà ngó đầu ra, khoe hàm hăng trắng đều tăm tắp
"Bố mình tuần nay trên cửa Đông, 4 hôm nữa khắc về tế Thành Hoàng!"
Tôi nghệt mặt, đưa mắt nhìn nhanh tên nhóc tóc húi vẫn không ngớt nhạo mình và tên tóc tém trông-có-vẻ-lương-thiện rất thản nhiên. Lúc này cả Thái lẫn Thành mới đều há họng ra cười, nước mắt giàn cả ra khóe mắt híp híp.
"Thằng ngố! Mắc mưu ông mày rồi ha ha ha! Thấy ông mày thế nào? Cố mày được cái chống gậy rồi mà chịu chơi ghê á mậy! Thấy mày nhát cáy bày kế chọc mày cho vui đọ!"
Rồi để xoa dịu thằng tôi đang tức xì khói, nó xoa vào miệng tôi một miếng bánh gai không nhân ngọt và bùi không tưởng, nhưng tôi vẫn thoi cho nó một đấm vào vai phải khiến nó chí chóe mất một hồi. Tức anh ách, nhưng bánh ngon, thằng Thái lại hồn hậu đãi chén nước chè đặc giải ngọt, tôi vừa nhai vừa nghe Thành dẻo quẹo phân minh mình tốt bụng như thế nào mới lừa tôi đi ăn mẻ bánh đầu.
"Nhưng mày lại không biết gì cả, đã lười đi thì thôi, được đi rồi còn đấm tao, có thấy tao nhọc công dư lào không thế!"
Thái hinh hích cười, trỏ ra ô cửa sổ đen thùi lùi bồ hóng bếp:
"Thường nó sợ cái đồng Vọng kia kìa! Không phải nó lười!"
Tôi ngượng tím mặt, vội nhét thêm miếng bánh nữa vào miệng để khỏi phải nói câu nào. Nhát nó là cái bản tính của thằng tôi. Nếu mẹ đặt tên tôi là Chiến, hay Thắng, hay gì đấy thì khác, đằng này tôi tên Thường, nó vừa hèn vừa...thường. Chẳng lẽ tôi lại bảo chúng nó cho mình ngủ nhờ một đêm, để sáng rồi về! Chứ đi qua đồng Vọng kể cũng hãi...
"Truyền thuyết thôi Thường ạ. Cái tích ông Hùm ở làng này đã xưa lắm rồi!"- Thái nói vẻ thông cảm-" Mình với anh Thành vẫn đi chơi đêm, qua đồng Vọng, qua cả đất mả, từ bé đến giờ dầm dãi cũng nhiều, ma cỏ với tinh quái gì đâu mà sợ! Không tin lát đi với mình!"
Đêm đen đặc. Chí Kim ngày đông không những lạnh còn tối, chiếc đèn của tôi và anh em nhà Thành thi nhau rọi cũng chỉ xuyên thủng được một quầng đêm cỡ 2m lẻ. Chân tôi líu quíu bước những bước ngắn dài tập tễnh, thằng Thành và thằng Thái đi cạnh. Con đường tôi đi đã lắm lần, đến đêm không ngờ lại rợn như vậy. Dế kêu ri ri đột nhiên im bặt, nghe tiếng sỏi lạo xạo dưới chân 3 thằng. Gió thốc qua áo tôi một chặp, cả tôi và hai thằng bạn cùng rùng mình.
"L...Lạnh hen bây!"_ Thành quíu cả lưỡi, hàm răng va chạm lạch cạch.
Đồng Vọng đêm. Gió rít u u như rắn độc, đưa tới mùi rác thối rữa kinh khủng tới loạn óc. Đêm đen đâm vào não tôi những cái gai nhọn hoắt, đâm liên tục cho tới khi đồng tử nở hoa tím tím vàng vàng lợt lạt.
Tôi không đáp lời nổi, dáo dác ngó một hồi rồi tập trung nhìn đường, chỉ sợ trông thấy gì kinh dị. Người tính quả nhiên không bằng trời tính, tôi vấp viên gạch vỡ, ngã chúi nhủi trên mặt đường gồ ghề. Hai thằng bạn lo lắng đỡ đần hỏi han, cuối cùng lại khiến tôi phải ngẩng mặt lên xuýt xoa. Giữa lúc ấy, tôi chỉ ước giá như mình bị mù... Có lẽ mù sẽ không đột nhiên có mùi sắt sộc lên tận mũi, hoặc, sẽ không thấy cái hình ảnh chạm vào mắt tôi lúc này. Hết sức bình sinh, nhắm mắt gào khản cả giọng
"ÁAAAAAAAAAAA!!!!!!!!!!"
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét